THI CA ANH MỸ


* Stopping by Woods on a Snowy Evening * The Road not Taken * An Old Man's Winter Night * My November Guest * Meeting and Passing * Birches * Asking for Roses * Because I could not stop for Death * It was not death, for I stood up * We Grow Accustomed to the Dark * Ode to a Nightingale * Ode toa Grecian Urn * To Autumn * Ode to Melancholy * Ode to Indolence * Ode to Psyche * Sonnet 18 * Sonnet 29 * Sonnet 30 * Sonnet 33 * Sonnet 2 * Sonnet 14 * Sonnet 15 * Sonnet 33 * Sonnet 35 * Sonnet 44 * Sonnet 46 * Sonnet 55 * Sonnet 56 * Sonnet 57 * Sonnet 61 * Sonnet 71 * Sonnet 73 * Sonnet 75 * Sonnet 104 * Sonnet 116 * She Walks in Beauty * The Solitary Reaper * I Wander Lonely as a cloud * The world is too much with us * My Heart Leaps Up * Ozymadias * Ode Ode to the West Wind * The Second Coming * The Lake Isle of Innisfree * Uphill
Dinh Song

Khoa Học Điện Toán
* Từ Điển Tin Học
Triết Học
* Triết Học, Khoa Học, và Tiến Hóa
Truyện Ngắn Đông Yên
* The Sun Hunters (Người đi săn mặt trời)
* Câu Chuyện một Dòng Sông
* Hẹn Nhau trươc Giao Thừa
Thơ Đông Yên
* Loài Chim Du Mục
Thơ dịch
* Thí Ca Lãng Mạn Pháp
* Tuyển Tập Thi Ca Anh Mỹ
* Robert Frost Tuyển Tập I
* Emily Dickinson Truyern Tập I
Truyện Dịch Song Ngữ
* Truyện Ngắn Song Ngữ I
* Truyện Ngắn Song Ngữ II
Vũ Trụ Học
* Cuộc Chiến Hố Đen
* Thiết Kế Vĩ Đại
* Vũ Trụ từ Hư Không
* Lai Lịch Thời Gian
Đĩa Bay & Người Hành Tinh
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh I
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh II
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh III
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh IV
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh V
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh VI
* Đĩa Bay và Người Hành Tinh VII
Khảo Luận Chính Trị
* Chủ Nghia Lưu Manh I
* Chủ Nghia Lưu Manh II
* Chủ Nghia Lưu Manh III
* Chủ Nghia Lưu Manh IV
* Chủ Nghia Lưu Manh V
* Hỗn Loạn Thế Giới Mới
* Chân Tướng Hollywood
* Mặt Trái Hệ Thống Chính Trị HK
* Kỷ Nguyên Âm Mưu
* Ma Túy, Dầu Mỏ, và Chiến Tranh
* Chết Dưới Tay Trung Quốc
* Trung Quốc sẽ Sụp Đổ
* Thế Giới Hậu Hoa Kỳ
* Không tưởng, nhân tố băng hoại của HK
* Hoa Kỳ trước hiểm họa phá sản 
Kinh Tế & Địa Ốc
* Kinh Tế Đại Cương Tập I
* Kinh tế Darwin -
* Địa Ốc Đại Cương

Sắp Xuất Bản
* Trật Tự Bạo Hành
It was not death, for I stood up
(Ta đã chết?)
- Emily Dickinson


Bài thơ It was not death, for I stood up biểu hiện những cảm nghĩ mâu thuẫn bên trong nhân vật của bài thơ bắt nguồn từ cảm thức về cái chết cận kề. Dickinson thăm dò trạng thái nầy qua những lực dối nghịch nhau trong trí tưởng của nhân vật trong thơ. Những nghịch lý trong đoản thơ thứ nhất phục vụ như một của ngõ đi vào những xáo trộn đang dằn vặt bà, một thứ xáo trộn mà bà không thể thoát ly được. Hàm ngụ trong lối diễn tả ray rứt càng làm rõ nét trạng thái khủng hoảng của nhân vật đối trước một cái chết tất yêu. Nhà thơ nhấn mạnh những cảm xúc của nhân vật về một đám tang để nhắc nhở đến định mệnh của chính chủ thể. Nhân vật cảm thấy bị kẹt vào một cái bẫy không thể thoát ra được. Tình trạng ngột ngạt hầu như rất khắt khe trong khi chìa khóa của vấn đề thì ngoài tầm tay với. Trong khi hai đoản thơ đầu diễn tả tâm trạng hoài nghi về cái chết và cho thấy nhu cầu phải chứng minh rằng nhân vật chưa thực sự chết, hai đoản thơ ba và bốn lại diễn tả trạng thái hốt hoảng khi nhận ra điều không thế tránh khỏi – định mệnh. Hai đoản thơ cuối cùng tổng hợp các đoản thơ trước với sự nhân mạnh trên cảm thức cam đành phủ phục. Dickinson đưa những cảm xúc chung cuộc của nhân vật về Tuyệt Vọng đến viễn ảnh tất yếu là đi vào lòng đất. Nhân vật trực diện với sự kiện tất yếu là cái gì đã đi thì nay đã ngừng. Đó còn là một nghịch lý giữa tĩnh giới hiện hữu bên trọng hỗn giới. Thảm họa của cái chết cận kề tạo nên một rạn nứt sâu thẳm, trong đó những cảm xúc mâu thuẫn xung đột nhau như trong một cơn bão tố. - Đông Yên

It was not death, for I stood up
It was not death, for I stood up,
And all the dead lie down;
It was not night, for all the bells
Put out their tongues, for noon.
It was not frost, for on my flesh
I felt siroccos crawl,
Nor fire, for just my marble feet
Could keep a chancel cool.
And yet it tasted like them all;
The figures I have seen
Set orderly, for burial,
Reminded me of mine,
As if my life were shaven
And fitted to a frame,
And could not breathe without a key;
And I was like midnight, some,
When everything that ticked has stopped,
And space stares, all around,
Or grisly frosts, first autumn morns,
Repeal the beating ground.
But most like chaos,--stopless, cool,
Without a chance or spar,--
Or even a report of land
To justify despair.
Ta đã chết?
Không thể chết vì ta đang còn đứng,
Ai chết rồi cũng đều phải nằm yên;
Đó không phải là đêm, không, không phải
Vì chuông trưa hiện đang điểm từng hồi.
Đó không phải giá băng trên da thịt
Toàn thân ta đang nóng vơi gió nồm,
Không phải lửa, vì chân ta như đá
Giữ cho ta sức lạnh của thánh đường.
Nhưng ta thấy tựa hồ như tất cả;
Những thây ma mà ta chính mắt nhìn
Sắp ngay ngắn và chờ giờ khâm liệm,
Họ đã làm ta nhớ đám ma ta,
Như sự sống của ta giờ đã tận
Và chỉ chờ vào một tấm áo quan,
Không thể thở nếu không mang chìa khóa;
Và tựa hồ ta đang giữa canh khuya,
Khi tất cả những gì đi phải đứng,
Không gian nhìn trân tráo khắp chung quanh,
Như băng giá, những ngày thu đến sớm,
Đang cướp đi nhịp đập của đất trời.
Như náo loạn – vô biên, lạnh giá,
Không cơ may hay bám víu vào đâu,
Không hy vọng dù chỉ là rất nhỏ
Nói làm chi đến tuyệt vọng lúc nầy.

Xin tìm đọc
Thi Ca Tuyển Tập Anh Mỹ
Đã phát hành trên Amazon
Nhà sách Tự Lực [(714) 531-5290] và các nhà sách VN tại Hoa Kỳ
Email: dinh-song@att.net