ĂN ĐỂ SỐNG VÀ SỐNG ĐỂ ĂN

Phiếm luận
Đoàn Văn Khanh

Không giống như thời tiền sử, con người chỉ biết ăn tươi nuốt sống bất cứ cái ǵ có thể ăn được và chỉ có thể ăn khi kiếm được thức ăn, v́ thế mà hầu như không có sự phân biệt giữa những con người với nhau v́ ăn. Nhưng kể từ khi con người văn minh ra và nhờ biết sản xuất, chế biến và dự trữ thức ăn th́ tùy theo môi trường, hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân mà cùng là con người sống chung trong một xă hội, nhưng người th́ ăn cơm, kẻ ăn khoai; người ăn ngon, kẻ ăn dở, người ăn no, kẻ ăn đói v.v... 

Rồi cũng v́ biết so sánh về những sự cách biệt đó mà con người mới t́m cách làm sao cho ḿnh có thể được ăn những thứ tốt hơn, ngon hơn và được ăn no hơn, ăn nhiều hơn kẻ khác. Chính v́ thế mà cách sinh hoạt của con người tuy có thay đổi, nhưng xét cho cùng ra th́ cũng chỉ xoay quanh cái việc ăn v́ có ăn th́ mới sống cho nên trong ngôn ngữ Việt, tiếng ăn thường được dùng để ghép chung với những từ khác để diễn đạt không biết bao h́nh thái sinh hoạt khác nhau của con người.

Trước tiên, v́ con người có óc tổ chức nên biết ấn định ra những thời biểu dành cho việc ăn để không làm trở ngại cho các hoạt động mưu sinh cho nên mới có sự phân biệt nào là ăn sáng, ăn trưa, ăn xế, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya... Rồi tùy theo số lượng thực phẩm mà người ta ấn định để ăn vào bụng theo những thời biểu khác nhau đó mà người ta nói là ăn lót ḷng, ăn chính, ăn dặm... 

Tuy đă chia cái việc ăn ra thành có giờ có giấc, nhưng có nhiều người thấy ăn theo bữa vẫn chưa thỏa măn cái tính thèm ăn nên mới ăn lắt nhắt thêm bất cứ lúc nào thấy thèm. Ăn như thế gọi là ăn vặt. C̣n những người hễ thấy hàng quà hàng bánh là nhào vô mua ăn liền th́ gọi là ăn quà. Cái khoản này th́ chỉ các bà các cô mới là kẻ rành hơn ai cả. Nói lên điều này không phải v́ tôi có thành kiến ǵ với phái nữ nhưng tại v́ ca dao từng có câu: chưa đi đến chợ đă lo ăn quà, nên tôi muốn ḿnh cũng phải lư luận theo cho đúng sự nhận xét khôn ngoan của ông cha ta truyền lại thế thôi. 

V́ ăn là một hành động thường lôi kéo thêm vài hành động khác đi kèm theo như ăn th́ phải uống cho nên người ta mới nói là ăn uống. Tuy nhiên thay v́ uống nước lă, nhiều người lại thay vào đấy những chất có đặc tính kích thích vị giác như la de, rượu tây, rượu đế... để tăng thêm phần khoái khẩu cho việc ăn nên người ta bảo là ăn nhậu. Nhưng chưa hết, nhiều người nhậu đă phải tạm ngưng để thở mà chỉ thở suông th́ cũng chán mới châm thêm điếu thuốc để ph́ phà cho vui miệng nên người ta mới gọi là ăn hút. Rồi cũng nhờ có ăn th́ mới có hơi sức để nói nên thích nói và hay nói nên nói hay, nói nhiều, nói mạnh, chứ đói th́ chỉ có nước nằm co nên người ta bảo là ăn nói

Sau khi no nê đă đời th́ người ta lại đâm ra rậm rật nên mới xoay ra đi t́m đối tượng để giải quyết cái nhu cầu tiếp theo đó cho thỏa măn hết mọi cái thú ở đời nên người ta mới bảo là ăn chơi. Ở đây tôi xin nói thêm là cái từ ăn chơi này ngoài cái nghĩa vừa nói trên, c̣n có nghĩa là ăn lai rai chút đỉnh cái ǵ đó cho đỡ buồn miệng trong khi chờ đợi ăn các món chính trong những bữa ăn lớn kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Ngoài ra tiếng ăn chơi cũng có khi biểu lộ một hành động giả bộ như trường hợp con nít lấy đất sét nặn thành bánh rồi giả vờ ăn cho vui v́ biết cái đó không ăn được. Cũng có khi tiếng ăn chơi dùng để diễn tả cái ư phải biết kiềm chế hành động ăn v́ tuy là món ăn đó ăn rất được nhưng ḿnh lại không phải là đối tượng được ăn, chẳng hạn khi người khác đang ăn chợt thấy ḿnh xuất hiện nên phải mời lơi th́ ḿnh dù muốn ăn cách mấy cũng chỉ nên ăn chơi thôi, nghĩa là ăn lấy thảo, chứ đừng ăn lấy no lấy béo mà đau ḷng chủ. 

Ngoài cái việc ăn thông thường hàng ngày hàng bữa, con người c̣n muốn có nhiều cơ hội để mà tụ họp nhau lại cùng ăn ngon hơn, ăn nhiều hơn và vui hơn nên mới đặt ra những cái lệ để cho ḿnh tổ chức ăn. Trong phạm vi cá nhân hay gia đ́nh th́ người ta bày ra chuyện ăn tiệc, ăn mừng, ăn khao: từ ăn đầy tháng, thôi nôi, sinh nhật, ăn đám cưới đám hỏi, ăn thượng thọ cho tới đủ thứ ăn mừng như ăn mừng tân gia, khai trương công việc; hoặc ăn khao thi đỗ, khao lên lương, lên chức... nghĩa là bất cứ trường hợp nào mà người ta có thể vin vào đó như là một cái cớ để tụ họp ăn uống khác biệt hơn ngày thường là tha hồ ăn khao, ăn mừng. 

Ở mức độ tập thể th́ có những cuộc ăn liên hoan của cơ quan hay đơn vị để mừng đủ thứ chuyện. Ngay cả công ty sắp sập tiệm người ta cũng họp nhau ăn uống để sáng ư ra mà t́m cách gỡ gạc lẫn nhau. Các hội đoàn ái hữu th́ ăn tiệc để thắt chặt t́nh tương thân tương ái hay mừng nhau sau một cơn tan tác lại c̣n có dịp thấy mặt nhau để mà kể lể những chuyện không c̣n nơi nào khác để kể. Chung cho cả quốc gia dân tộc th́ người ta bày ra cái gọi là ăn tết. Tháng giêng ăn Tết ở nhà mà vẫn chưa đủ nên người ta lại chế ra những tết nhỏ như tết Đoan ngọ, tết Trung thu... để có dịp đua nhau ăn. 

Tuy đă bày ra mấy cái Tết rồi mà thấy vẫn chưa thỏa măn nên người ta lại đặt thêm các ngày lễ, ngày hội để ăn mừng. Ở cấp địa phương th́ có hội làng, lễ khánh thành ngôi chùa này, nhà thờ kia. Lên cấp quốc gia th́ có lễ Quốc khánh, lễ kỷ niệm vị anh hùng này, trận chiến thắng nọ để mà cùng nhau ăn mừng. Cao hơn nữa và lan rộng ra cả thế giới th́ có những cuộc lễ vĩ đại mang tính chất tôn giáo để cho muôn dân cùng ăn mừng một loạt như ăn lễ Giáng sinh, ăn lễ Phật Đản v.v... 

Vui người ta nghĩ đến ăn đă đành mà buồn người ta cũng nghĩ đến ăn cho nên ngay cả khi bị thiên tai, hoạn nạn, đám ma, đám giỗ, người ta cũng cần phải có ăn th́ mới thành đám cho nên mới bày ra tṛ cúng kiếng để cầu thần thánh ban ơn hay là để cho người chết cũng được no đủ. Nhưng đă là thần thánh th́ đâu màng tới cái ăn, c̣n người chết rồi th́ làm sao mà ăn được nữa cho nên những món thực phẩm bày ra để cúng kiến đó tất nhiên là người sống tha hồ mà hưởng và người ta gọi đó là ăn cúng, ăn giỗ

Khi người ta chịu khó ra chợ mua thực phẩm đem về nhà nấu nướng rồi ăn th́ người ta gọi là ăn nhà. Những người không thích chuyện bếp núc mất th́ giờ bèn tới bữa th́ ghé hàng ghé quán mà ăn luôn cho tiện việc th́ gọi là ăn tiệm. Nhiều người ăn măi cơm nhà hoài cũng chán hay bỏ tiền ra ăn tiệm hoài cũng tiếc tiền nên nhiều lúc chỉ mong cho có ai đó mời ḿnh đi ăn hay bao ḿnh ăn th́ gọi là ăn khách

Ăn khách c̣n có nghĩa là được nhiều người hâm mộ hay mê thích như tuồng cải lương này ăn khách, món nhậu nọ ăn khách. Thời tiền chiến có nhà thơ Tản Đà vừa hay thơ mà cũng nổi tiếng là sành ăn uống. Có lẽ thấy sành ăn cũng là một nghệ thuật phụng sự nhân sinh đáng đề cao nên thời miền Nam vừa thoát cảnh nô lệ mấy ông Tây thực dân th́ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm bấy giờ bèn cho thực hiện ngay việc đổi tên các đường phố, Hội đồng Đô thành Sài g̣n lúc ấy thấy trong Chợ Lớn có một con đường mà từ trong tiệm ra tới lề đường chỉ toàn kinh doanh có một ngành ăn uống bèn đặt tên luôn cho con đường này là đường Tản Đà. Có điều nếu có ai đó cắc cớ hỏi những người làm ăn buôn bán ở con đường đó có biết Tản Đà là ai không th́ câu trả lời chắc chắn sẽ là "Ngộ hổng piếc". Mà đúng thế thật. Đă là "ngộ" th́ chỉ cần biết mấy món đồ ăn của "ngộ" làm ra ăn khách và "ngộ" hốt bạc là đủ rồi. 

Chính v́ ăn là cái mục đích tối hậu nên ngay cả cái động từ làm cũng được ghép với tiếng ăn để thành ra tiếng làm ăn. Rồi khi nói đến những nhu cầu phụ thuộc nhằm tăng thêm tiện nghi cho cuộc sống con người như vấn đề trang phục người ta cũng nói là ăn mặc, v́ có dư ăn th́ mới nghĩ đến chuyện mặc chứ bụng mà đói th́ quần áo cũng đem đi cầm. Tục ngữ cũng có câu: Ăn đói mặc rách. Đă đói th́ nhất định là phải rách. Rồi tới cái nhà dùng làm chỗ che mưa đụt nắng cũng được gọi là nơi ăn ở. Thậm chí trong cái việc vợ chồng sống chung th́ cũng phải có ăn rồi người ta mới có thể âu yếm ngủ chung giường với nhau nên người ta cũng gọi đó là ăn nằm

Cũng giống như cái mặc, cái cũng tùy thuộc sau cái ăn cho nên nếu dư ăn dư để th́ mới có nhà. Càng dư ăn th́ nhà càng cao càng đẹp. Lỡ khi hoạn nạn, biến cố hay thất nghiệp không có tiền ăn th́ có nhà cũng phải đem bán. Cũng trong cái mục ăn ở, khi gia đ́nh hoà thuận th́ mọi người trong nhà ai cũng thích ăn chung cho t́nh gia đ́nh thêm đầm ấm, nhưng nếu lỡ mà sinh sự ra rồi th́ mạnh người nào người nấy ăn cho nên người ta lại thích ăn riêng để đỡ phải nh́n mặt nhau mà anh ách ở trong ḷng. 

Người không có cơm ăn không có nhà ở phải mang cái thân trần trụi t́m đến bà con bạn bè xin tá túc th́ được gọi là ăn nhờ ở đậu. Làm thân ăn gửi nằm nhờ th́ nhiều khi chỉ dám ăn thừa, ăn mót và lúc nào cũng cố t́m đủ mọi cách để lấy ḷng nhà chủ nhưng nhà chủ chưa lấy làm hài ḷng nên hở ra là mắng đồ ăn bám hay ăn báo

Những người thuộc loại vô tích sự lại chỉ thích ăn không ngồi rồi th́ khi thấy nhà người khác có chuyện vui và có ăn thường ṃ tới chầu ŕa rồi làm bộ xun xoe để được ăn nhưng khi gia chủ cần họ giúp một việc ǵ th́ chỉ tổ làm hỏng việc hoặc khi gia chủ bị hoạn nạn th́ họ lại nhanh chân chuồn gấp bỏ mặc gia chủ bơ vơ th́ được gọi là ăn hại

Những người lương tháng ba cọc ba đồng mà ưa ngồi hàng ngồi quán th́ thường chưa hết tháng đă cạn túi bèn xoay ra ăn xong ghi sổ nợ chờ đến ngày lănh lương thanh toán. Ăn như thế gọi là ăn chịu. Có người túi không tiền nhưng cũng vào hàng quán gọi đủ thứ ăn nhậu đă đời rồi t́m cách chuồn êm th́ được gọi là ăn quịt. Cũng có người hễ thấy đâu có ăn free hay thấy người khác ăn uống th́ cứ đứng xớ rớ bắt chuyện làm quen chờ người ta bảo ăn th́ nhào vào ăn lấy ăn để. Ăn như thế th́ được gọi là ăn chực.

Thân phận con người là có làm mới có ăn cho nên khi một người chỉ phải bỏ sức lao động ra làm việc cho người khác để lănh tiền công th́ được gọi là ăn công. Những người làm nghề buôn bán th́ phải làm sao cho số doanh thu lớn hơn cái vốn bỏ ra lúc đầu để có được một số tiền thặng dư gọi là lời cho ḿnh ăn tiêu nên người ta gọi là ăn lời. Những người thích buôn bán mà không có vốn nên chỉ biết làm trung gian môi giới giữa người có hàng bán và người cần hàng mua rồi dựa trên trị giá hàng hai bên mua bán được với nhau để mà ăn tiền tính theo tỷ lệ phần trăm th́ gọi là ăn hoa hồng. C̣n khi nhiều người cùng hùn hạp làm ăn chung với nhau để rồi cùng chia cái lời đó mà ăn th́ người ta gọi là ăn chia. Tuy nhiên khi một kẻ thấy có món ngon ăn và dễ xơi th́ chỉ muốn ăn một ḿnh bèn t́m cách xé lẻ để cho ḿnh ăn trọn th́ được gọi là ăn mảnh

Đi làm cho hăng hay cho nhà nước th́ ăn lương. Có nhiều người thấy chỉ ăn lương nhà nước th́ chưa đủ cho ḿnh xài nên thấy công qũy sẵn tiền bèn ngứa mắt t́m cách moi móc cho vào túi riêng nên được gọi là ăn đục, ăn khoét. Có người th́ nhờ nắm giữ những chức vụ có điều kiện để ban phát ân huệ cho người khác như cấp giấy tờ, cho việc làm th́ cũng được nhiều người v́ muốn được việc cho ḿnh t́m đến đút lót cho ăn để xin xỏ, cầu cạnh. Ăn như thế này được gọi là ăn hối lộ

Trường hợp không có phương tiện hay cơ hội để ăn đút ăn lót của người ngoài th́ người ta t́m cách ăn xén, ăn chận người dưới ḿnh như quan ăn chận lương lính, thủ trưởng ăn xén lương nhân viên. Ngay cả cơm tù đă quá tệ mà nhiều khi vẫn c̣n bị đám cai tù ăn bớt như thường. Ăn như thế này tục ngữ nói là ăn hớt cơm chim. Ngược lại người làm công hay cấp dưới cũng có thể t́m cách ăn ḅn, ăn rút, của chủ. Những cách ăn theo kiểu này nói chung lại đều là ăn bẩn

Người làm nghề tự do th́ lại kiếm thêm bổng lợi cho ḿnh bằng cách tính toán sai lệch nhằm mang thêm phần lợi cho ḿnh nên được gọi là ăn gian, ăn lận. Do sự ăn gian ăn lận này mà nảy sinh ra những tiếng ghép về ăn nghe rất lạ tai như là ăn vải, ăn xi măng, ăn sắt, ăn đá... tùy theo ngành nghề của người đó. Làm thợ may th́ ăn gian vải nên người ta bảo thợ may th́ ăn vải. Nhà thầu xây cất th́ ăn gian vật liệu cho nên người ta mới gọi là ăn xi măng, ăn sắt... toàn là những thứ nhai không được mà người ta vẫn có thể nuốt trôi như thường mới là tài. Ngay cả funds (qũy) của các hội đoàn thiện nguyện do đồng bào đóng góp hay chính phủ tài trợ để làm những việc cứu tế từ thiện cho người nghèo, người bị thiên tai v.v... cũng bị người ta bùa phép thành của riêng bỏ túi cho ḿnh ăn xài nên người độc miệng mới gọi ăn như thế là ăn phân

Tuy ai cũng làm để có ăn nhưng có người may mắn th́ ăn nên làm ra c̣n nhiều kẻ đă ăn tằn ăn tiện mà vẫn không đủ ăn. Những người mà ăn bữa sáng lo bữa tối, chạy ăn từng bữa như thế thường được người ta gọi là ăn đong. Có người đă phải làm vất vả rồi mà vẫn không có đủ gạo nấu cho đầy nồi cơm đành phải dặm thêm mớ khoai, mớ củ ḿ vào cho đầy cái nồi để ăn cho đủ no th́ được gọi là ăn độn. Rồi v́ thiếu ăn cho nên càng thèm ăn và cái thèm ăn triền miên này thôi thúc mà có người hễ thấy đồ ăn của người khác để hớ hênh th́ lén lấy ăn liền nên người ta bảo là ăn chùng, ăn vụng

Cái tiếng ăn vụng này c̣n được hiểu rộng ra để chỉ mấy ông bà v́ quá no cơm ấm cật nên rậm rật hơi nhiều thành thử tuy đă có vợ, có chồng nhưng chê đồ nhà không ngon bèn lén vợ lén chồng đi t́m vui với đào với kép. Thường th́ đào kép rủ nhau đi ăn vụng bao giờ cũng có kèm theo màn ăn uống thực sự cho nên khi câu chuyện ăn vụng của họ bị đổ bể ra làm đề tài cho dư luận đàm tiếu th́ tùy theo hôm đó họ đưa nhau đi ăn cái ǵ mà thiên hạ dùng luôn cái món họ ăn hôm đó để mô tả cho tiện như là tuần trước ông nọ đưa bà kia đi ăn chè ở Nhà Bè, ăn nem Thủ Đức ... chẳng hạn. Ăn vụng kiểu này mà lỡ bị sư tử Hà đông bắt gặp hay ông nhà trông thấy là thế nào cũng bị ăn đ̣n. Nhẹ ra th́ miệng mũi cũng ăn trầu, c̣n dữ dằn hơn nữa th́ không làm sao kể xiết. 

Cái chuyện ăn mà không phải là ăn và chỉ có kẻ cho ăn mới là kẻ thỏa măn, c̣n người được ăn hay bị ăn bao giờ cũng đau khổ mà nhận lấy, th́ ngoài chuyện ăn đ̣n mà hầu như ai từ nhỏ tới lớn cũng đă từng trải qua, c̣n có nhiều thứ ăn khác nữa: Ra đường ghẹo gái mà gặp nhằm cọp cái th́ chắc chắn là sẽ được ăn tát. Ra đời mà đụng chạm th́ sẽ có những lần ăn đấm ăn thoi, cho tới ăn dao, ăn đạn. Ấy là chưa kể có những người mà nghề nghiệp bắt buộc họ trở thành cái mục tiêu ăn dao ăn đạn như mấy người trót phải theo nghiệp binh đao. 

Mặc dầu muốn có ăn th́ phải làm nhưng cũng có những người không thích lao động làm ra của cải cho ḿnh mà chỉ thích lấy cái có sẵn của người khác để dùng. Ở mức độ nhẹ th́ có ăn cắp. Bạo hơn chút nữa là ăn trộm v́ c̣n biết sợ khổ chủ hay nhân viên an ninh trông thấy th́ bị tóm. Đối với những tay chịu chơi hết ḿnh, không c̣n nể nang luật pháp xă hội nữa mà ngang nhiên dùng vũ khí để uy hiếp kẻ khác đưa tiền cho ḿnh xài th́ được gọi là ăn cướp. Muốn ăn cướp lớn th́ cần phải lập thành băng đảng để hành động cho hữu hiệu nên những kẻ trong băng đảng đều phải ăn thề để không một thành viên nào dám phản bội, v́ chỉ cần một kẻ phản bội là đủ cho cả lũ rũ xác trong tù. 

Có một con đường được coi như là khá lương thiện xưa nay vẫn giúp cho người ta có thể sau này vừa vinh thân vừa ph́ gia là con đường học vấn. Nhưng muốn học th́ cũng phải ăn cái đă cho nên người ta mới bảo là ăn học. Tục ngữ cũng có câu: ăn vóc học hay. Cũng v́ thế mà thường th́ cha mẹ có đủ ăn hay dư ăn rồi mới có thể cho con đi học. Tuy nhiên có nhiều cô cậu thừa phương tiện ăn để học th́ lại không chịu ăn học cho thành tài để giúp dân giúp nước mà chỉ biết ăn xài với lại ăn chơi

Trong các môn tiêu khiển mà con người bày ra cho người ta vui chơi th́ cái môn cờ bạc là hấp dẫn nhất v́ cờ bạc th́ bao giờ cũng có ăn tiền. Những kẻ mà bản tính keo kiệt th́ đôi khi có ghé vào ṣng bài cũng chỉ nhằm mua vui chốc lát nên thích ké những người đánh lớn mà đang hên để mong họ thắng th́ ḿnh cũng được chia chút đỉnh nên chỉ là ăn ké. Người nào mà vừa ăn được chút đỉnh đă vội rút lui khỏi ṣng bài v́ sợ ngồi dai thua lại hết tiền th́ được gọi là ăn non. Tuy nhiên những tay có máu mê cờ bạc th́ lúc nào cũng chỉ muốn ăn thua đủ cho nên lỡ mà thần may mắn không chiếu cố tất nhiên có ngày phải sạt nghiệp đến mức không c̣n một đồng mua bánh ḿ gặm cho đỡ đói đành phải đi xin ăn nên được gọi là ăn xin, ăn mày

Mặc dù trong việc làm ăn th́ tất cả ngành nghề ǵ cũng thu nhận nam và nữ, duy có một nghề bán hoa ái t́nh th́ chỉ dành riêng cho phái nữ mà thôi. Đây là một công việc làm ăn chẳng lấy ǵ làm vinh quang nhưng ở những nước hay nói đến vinh quang lại là những nước có nhiều chị em ta làm cái nghề này hơn cả. Lư do xui chị em ta chọn cái nghề này là thuộc phạm vi t́m hiểu của nhà xă hội học, tôi không dám lạm bàn. Ở đây tôi chỉ muốn nói là có những chị em ta kém may mắn không có cơ sở nào thâu nhận vào làm lâu dài th́ cứ phải đêm đêm ra đứng lấp ló ở mấy gốc cây bên đường chờ đợi khách mua hoa để cho ḿnh có tiền ăn th́ được người ta gọi là ăn sương.

V́ con người th́ càng ngày càng đông ra mà của ăn th́ càng ngày càng khó hơn cho nên con người càng phải biết nhanh tay lẹ mắt chụp giật mới có ăn. Quy luật của sự ăn tranh, ăn giành, ăn giật là kẻ mạnh bao giờ cũng t́m cách ăn hiếp hay đè bẹp kẻ yếu để cho ḿnh ăn chắc, hay nói khác đi là ḿnh phải ăn người. Tiếng ăn người ở đây chỉ có nghĩa là hạ được người khác để chỉ c̣n lại ḿnh được ăn chứ không phải coi thịt người như là một món thực phẩm rồi ăn như ăn thịt một con vật, mặc dù hiện tượng này không phải là không có. Các bộ lạc dă man ngày xưa vẫn thường coi món thịt người là món qúy và ngon nhất. Người văn minh th́ không c̣n ăn thịt người nữa nhưng đôi khi v́ quá cùng quẫn đành phải ăn cả thịt người như chuyện cha mẹ ăn thịt con vào thời xảy ra nạn đói khủng khiếp ở đồng bằng Bắc Việt vào năm Ất Dậu. 

Từ cái chuyện tranh ăn và ham ăn mà có thêm cái hiện tượng ăn đượcđược ăn. Ăn được nói ở đây không có nghĩa là cái đồ ăn đó lành, không có tính độc làm hại đến sức khoẻ con người khi ăn vào bụng, mà có nghĩa là một người nào đó v́ ham ăn nên ăn quá nhiều, ăn đến độ bộ máy tiêu hóa cũng trở thành tê liệt, nhưng cái bản chất đam mê ăn uống của người ấy vẫn không chừa nên hễ thấy của ăn hay người khác ăn th́ tiếc mới mong cho ḿnh cũng ăn được. Ca dao có câu: 

Ăn được ngủ được là tiên 
Không ăn không ngủ là tiền vứt đi 

Tuy nhiên ngược lại có những kẻ chỉ mong được ăn. Họ là những kẻ quá thiếu thốn v́ không thể kiếm ra cái ăn hoặc bị kẻ khác tước đoạt mất cái ăn cho nên niềm mơ ước của họ là được ăn. Nắm được cái yếu điểm này của quần chúng đói rách mà có nhiều kẻ đă lợi dụng cái chiêu bài cơm no áo ấm để lôi kéo quần chúng làm cách mạng. Nhiều người v́ tin tưởng vào cái chân lư ấy của cách mạng nên đă lăn xả vào kẻ bị coi là địch để mà ăn gan uống máu quân thù cho cách mạng sớm thành công nhưng khi cách mạng thành công th́ mới nhận ra lâu nay ḿnh chỉ làm kẻ hy sinh ăn bánh vẽ để cho mấy ngài "cách mạng" an vui thụ hưởng những tàn dư của kẻ thù. 

Tại những nước từng làm cách mạng theo kiểu đó mà thành công th́ nhờ có những đỉnh cao trí tuệ sáng suốt nghĩ ra mà nhân dân c̣n được ăn uống có chế độ gọi là ăn tiêu chuẩn. Người không có tiêu chuẩn ăn chính thức nhưng v́ dựa vào mối liên hệ đúng trong quy định với một người có tiêu chuẩn để mà hưởng theo phần nào th́ gọi là ăn theo. Các đỉnh cao trí tuệ lại c̣n tính toán tinh vi và khoa học để sáng tạo ra được cái lẽ công bằng là cấp cao phải ăn bếp nhỏ c̣n cấp thấp th́ được ăn bếp to. Điều này mới nghe th́ thật là hấp dẫn, nhưng phiền một nỗi là chỉ có bếp nhỏ nấu cho một hai người ăn mới có thể có chân gị heo hầm dược thảo, c̣n bếp to nấu chung cho cả làng cả tổng cùng ăn th́ mở chảo ra chỉ thấy lỏng bỏng toàn là nước lă nấu với chân lư. 

Cái tiếng được ăn c̣n được hiểu theo nghĩa được quyền ăn cho nên kẻ mong được ăn mà không có quyền ăn hay không được phép ăn mới nghĩ ra một cách đ̣i ăn gọi là ăn vạ, giống như khi đứa nhỏ thấy người lớn ăn một món ǵ đó mà không cho ḿnh ăn hay có khi c̣n cấm ḿnh ăn th́ xoay ra làm nũng khóc lóc để đ̣i hỏi. Người lớn cũng thường xuyên ăn vạ lẫn nhau như hàng xóm ăn vạ láng giềng, công nhân ăn vạ giới chủ nhân... Trên b́nh diện quốc gia th́ khi người dân mà cảm thấy ḿnh bị áp bức quá cũng rủ nhau kéo đến cửa công ăn vạ chính quyền.

 Trường hợp dân ăn vạ đ̣i hỏi những cái không lấy ǵ làm quá đáng th́ cấp thẩm quyền có thể chỉ cần tuyên bố chờ "ngâm kíu" rồi đóng cửa nằm trong nhà ăn no ngủ kỹ mặc cho đám ăn vạ cứ ăn chực nằm chờ ngoài trời cho đến khi không c̣n đủ sức chịu đựng nữa phải cuốn chiếu ra về. C̣n trường hợp dân ăn vạ quá đông và có nguy cơ làm đổ cả mấy cái ghế lănh đạo th́ cấp thẩm quyền v́ quyết tâm bảo vệ chế độ cũng sẽ không ngần ngại ǵ mà không sai lính tới cho dân ăn lựu đạn cay hay có khi c̣n cho ăn luôn cả đạn thật để hết đ̣i hỏi lôi thôi. 

Có lẽ v́ cái ăn lúc nào cũng ám ảnh con người mà nhiều khi nói về sự vật người ta cũng dùng tiếng ăn cho nhiều trường hợp như khi người ta nói chiếc xe hơi này chạy ăn xăng, chiếc tàu nọ cặp bến để ăn hàng... rồi đến các hiện tượng thiên nhiên như nguyệt thực được gọi là mặt trăng ăn mặt trời, c̣n nhật thực là mặt trời ăn mặt trăng v.v... Những tiếng ăn dùng theo cách này cũng nhiều lắm nhưng v́ không nằm trong nghĩa tiếng ăn chủ quan của con người nên tôi không muốn bàn đến. Duy có cái đường biên giới mới giữa nước ta và nước Tàu hiện nay đă ăn sang lănh thổ nước ta th́ cũng có liên hệ xa gần đến cái việc ăn của con người nên đang là vấn đề gây sôi nổi. Đối với những người dân Việt yêu nước th́ thấy đây là một vết thương đang ăn sâu vào ḷng dân tộc nhưng đối với những kẻ có trách nhiệm trực tiếp về vấn đề này th́ trót quen ăn trên ngồi trước nên không muốn lôi thôi về nó mà mất cái chỗ ngồi mát ăn bát vàng nên vẫn cứ ngậm miệng ăn tiền

V́ nhận thức được cái sự đam mê ăn của con người là nguồn gốc của mọi sự sa đọa cũng như nguyên nhân của không biết bao nhiêu tranh chấp khiến cho con người trở nên hận thù, chinh chiến, tàn sát lẫn nhau nên từ xưa các nhà tôn giáo đă nghĩ ra phép ăn chay để cho tinh thần con người tỉnh táo ra mà biết sám hối. Ăn chay là phải kiêng ăn một số đồ ăn nào đó như người theo Phật giáo th́ không được ăn các loài động vật. Thế nhưng nhiều người miệng th́ nói ăn chay nhưng thực tế th́ chỉ t́m cách ăn mặn và c̣n ăn bạo hơn cả người không bao giờ ăn chay. Có người th́ tin theo giáo luật để khi ăn chay chỉ dùng rau quả ngũ cốc thôi nhưng v́ cái ước muốn thèm thuồng những của ngon vật lạ trần gian vẫn chưa dứt bỏ cho nên mới chế ra gà quay chay, gị heo hầm chay v.v... để vẫn được ăn ngon mà không sợ phạm giới luật. 

Người theo Thiên Chúa giáo th́ khi giữ chay phải kiêng thịt và hạn chế số lượng thực phẩm đưa vào bao tử trong ngày đó cho nên có người mới chế ra cái tṛ canh đồng hồ: trước khi sắp bước vào ngày chay là họ đă lo ăn uống cho căng cả bụng lên để ngày ăn chay chỉ ăn qua loa đúng phép vẫn không đói. Chưa hết ngày chay th́ đă lo sửa soạn sẵn các món ăn thật ngon, thật dồi dào để chờ đồng hồ vừa chỉ nhích qua ngày là an tâm chè chén mà không hề có một chút mặc cảm phạm tội nào.

Cũng v́ thấy cái ăn lúc nào cũng ám ảnh con người và làm cho con người thành mê muội nên từ xưa trong ngôn ngữ Việt ông cha ta cũng c̣n dùng một tiếng ăn nữa cho dễ nhớ nhưng không nhằm chỉ hành động ăn theo nghĩa vật chất mà chỉ là một trạng thái tinh thần biết nhận ra những lỗi lầm sai trái trong suy nghĩ, lời nói và việc làm của ḿnh để mà hối cải, tức là ăn năn

Cái tiếng ăn này th́ h́nh như chẳng có vẻ ǵ hấp dẫn hay thú vị đối với nhiều người nên rất nhiều người cứ tảng lờ đi như không biết. Tuy nhiên, những người nào mà trong quá khứ chỉ biết sống để ăn nên đă ăn quá nhiều, ăn đến ngập mày ngập mặt, ăn đến nỗi đâm ra lú lẫn quên hết mọi cái phải trái ở trên đời, ăn theo kiểu ăn gian làm dối, ăn cháo đái bát, ăn cây táo rào cây sung, ăn trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác, ăn trên sự đau khổ của đồng bào, ăn trên xương máu của nhân dân, cũng cần nên nhớ lại hai tiếng ăn năn này để mà chịu khó mỗi ngày biết ăn năn một chút th́ may ra xă hội loài người mới không có ngày bị hủy diệt v́ những con người trót bị sa đọa v́ ăn.

ĐOÀN VĂN KHANH
Ao Sau Vườn